• TẬP ĐOÀN BITEXCO
  • I-REC BITEXCO POWER
  • vi Tiếng Việt
    en Englishvi Tiếng Việt
Bitexco Power
  • Về bitexco power
    • Thương hiệu Bitexco Power
    • Lịch sử phát triển
    • Ban lãnh đạo
    • Các công ty thành viên
  • Danh mục dự án
    • Bản đồ
    • Dự án đang vận hành
  • Sản xuất điện
    • Thủy điện
    • Điện mặt trời
  • Tin tức
    • Sản xuất - Kinh doanh
    • Khoa học - Công nghệ
    • Văn hóa doanh nghiệp
    • Hoạt động xã hội
  • Tuyển dụng
    • Môi trường làm việc
    • Danh sách tuyển dụng
  • Giới thiệu
    • Chúng tôi hướng tới vị thế hàng đầu, trở thành công ty năng lượng có năng lực phát triển mạnh
    • Thương hiệu Bitexco Power
    • Lịch sử phát triển
    • Ban lãnh đạo
    • Các công ty thành viên
  • Danh mục dự án
    • Chúng tôi hướng tới vị thế hàng đầu, trở thành công ty năng lượng có năng lực phát triển mạnh
    • Bản đồ
    • Dự án đang vận hành
  • Sản xuất điện
    • Chúng tôi hướng tới vị thế hàng đầu, trở thành công ty năng lượng có năng lực phát triển mạnh
    • Thủy điện
      • Các nhà máy thủy điện
      • Kết quả sản xuất thủy điện
      • Tin tức thủy điện
    • Điện mặt trời
      • Các nhà máy điện mặt trời
      • Kết quả sản xuất điện mặt trời
      • Tin tức điện mặt trời
  • Truyền thông
    • Chúng tôi hướng tới vị thế hàng đầu, trở thành công ty năng lượng có năng lực phát triển mạnh
    • Tin tức
    • Thư viện
  • Sự kiện
    • Chúng tôi hướng tới vị thế hàng đầu, trở thành công ty năng lượng có năng lực phát triển mạnh
    • Sự kiện
    • An sinh xã hội
  • Tuyển dụng
    • Chúng tôi hướng tới vị thế hàng đầu, trở thành công ty năng lượng có năng lực phát triển mạnh
    • Tuyển dụng
    • Danh sách tuyển dụng
  • Liên hệ
    • Chúng tôi hướng tới vị thế hàng đầu, trở thành công ty năng lượng có năng lực phát triển mạnh
    • Liên hệ
    • Trụ sở
Vui lòng nhập thông tin tìm kiếm.
Trang chủ Tin tức Chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam: Cơ hội, thách thức và yêu cầu trong giai đoạn mới
Chia sẻ

Chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam: Cơ hội, thách thức và yêu cầu trong giai đoạn mới

10/06/2026

Tham luận của PGS.TS Ngô Trí Long – Chuyên gia Kinh tế, Hiệp hội tư vấn Tài chính Việt Nam trong khuôn khổ Hội thảo “Chuyển dịch năng lượng – Động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số” do Báo Lao Động phối hợp với Bộ Công Thương tổ chức ngày 9.6.2026

PGS.TS Ngô Trí Long – Chuyên gia Kinh tế Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam – trao đổi tại hội thảo “Chuyển dịch năng lượng – Động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số”. Ảnh: Việt Anh

Chuyển dịch năng lượng đang trở thành một trong những vấn đề trung tâm của phát triển toàn cầu. Đây không còn là câu chuyện riêng của môi trường, càng không chỉ là việc thay thế một nguồn năng lượng này bằng một nguồn năng lượng khác. Trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế ngày càng gắn với tiêu chuẩn phát thải, chuỗi cung ứng xanh, an ninh năng lượng và năng lực chống chịu của mỗi quốc gia, chuyển dịch năng lượng đã trở thành yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển.

Đối với Việt Nam, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết hơn khi đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng tăng trưởng cao, trong đó mục tiêu tăng trưởng hai chữ số đặt ra sức ép rất lớn đối với hệ thống năng lượng quốc gia. Tăng trưởng nhanh đòi hỏi phải có đủ điện, đủ nhiên liệu, hạ tầng truyền tải ổn định, chi phí năng lượng hợp lý và khả năng đáp ứng ngày càng cao của nền kinh tế công nghiệp hóa, đô thị hóa, số hóa và xanh hóa. Nếu năng lượng không đi trước một bước, năng lượng sẽ trở thành điểm nghẽn của tăng trưởng. Nhưng nếu chỉ đáp ứng nhu cầu năng lượng bằng cách mở rộng mô hình tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch truyền thống, nền kinh tế sẽ đối mặt với rủi ro về nhập khẩu nhiên liệu, biến động giá quốc tế, áp lực lạm phát, ô nhiễm môi trường và suy giảm sức cạnh tranh xuất khẩu.

Vì vậy, chuyển dịch năng lượng ở Việt Nam cần được nhìn nhận một cách toàn diện hơn. Đó không chỉ là phát triển điện mặt trời, điện gió hay tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện. Đó còn là quá trình tái cấu trúc cả hệ thống năng lượng: Từ nguồn cung đến hạ tầng, từ điện đến xăng dầu, từ nhiên liệu truyền thống đến nhiên liệu sinh học như E10, từ sản xuất đến tiêu dùng, từ cơ chế giá đến thị trường carbon, từ chính sách nhà nước đến hành vi của doanh nghiệp và người dân.

Bài tham luận này tập trung làm rõ bản chất của chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam trong giai đoạn mới; phân tích cơ hội, thách thức đặt ra; đồng thời đề xuất một số yêu cầu chính sách nhằm biến chuyển dịch năng lượng từ một sức ép thành một động lực phát triển. Vấn đề cốt lõi không phải là lựa chọn giữa tăng trưởng và chuyển dịch năng lượng, mà là làm thế nào để chuyển dịch năng lượng trở thành nền tảng cho tăng trưởng cao, bền vững, tự chủ và có sức cạnh tranh hơn.

Có thể nói, muốn tăng trưởng hai chữ số, Việt Nam phải bảo đảm năng lượng đi trước một bước. Nhưng năng lượng đi trước không chỉ là có thêm công suất, thêm điện, thêm xăng dầu. Năng lượng đi trước phải là một hệ thống hiện đại hơn, sạch hơn, hiệu quả hơn, minh bạch hơn và có khả năng chống chịu tốt hơn. Đó chính là tinh thần xuyên suốt của chuyển dịch năng lượng trong giai đoạn mới: chuyển dịch để phát triển, chuyển dịch để cạnh tranh và chuyển dịch để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Chuyển dịch năng lượng là xu thế tất yếu, Việt Nam không nằm ngoài dòng chảy đó

Trong bối cảnh hiện nay, chuyển dịch năng lượng không còn là câu chuyện riêng của các quốc gia phát triển, cũng không chỉ là vấn đề môi trường hay cam kết giảm phát thải. Đây đã trở thành một xu thế phát triển mang tính toàn cầu, gắn trực tiếp với an ninh năng lượng, năng lực cạnh tranh quốc gia, cấu trúc lại chuỗi cung ứng, tiêu chuẩn xuất khẩu, dòng vốn đầu tư và mô hình tăng trưởng mới.

Thế giới đang chứng kiến sự thay đổi rất sâu sắc trong cách sản xuất, phân phối và tiêu dùng năng lượng. Nhiều quốc gia đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo, tăng đầu tư vào lưới điện, lưu trữ năng lượng, điện khí hóa giao thông, nhiên liệu sinh học, hydro xanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Các thị trường xuất khẩu lớn ngày càng coi phát thải carbon là một tiêu chí cạnh tranh. Một sản phẩm không chỉ được đánh giá bằng giá thành, chất lượng, mẫu mã, mà còn bằng lượng carbon phát thải trong quá trình sản xuất, vận chuyển và tiêu thụ.

Trong xu thế đó, Việt Nam không thể đứng ngoài. Một nền kinh tế có độ mở lớn, phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, đang hướng tới công nghiệp hóa hiện đại và mục tiêu tăng trưởng cao không thể tiếp tục phát triển dựa trên mô hình năng lượng cũ: tiêu hao nhiều nhiên liệu hóa thạch, hiệu quả sử dụng năng lượng thấp, lưới điện chậm nâng cấp, thị trường năng lượng chưa thật sự minh bạch và phụ thuộc lớn vào nhập khẩu nhiên liệu.

Chuyển dịch năng lượng, vì vậy, không phải là khẩu hiệu. Bản chất của chuyển dịch năng lượng là chuyển từ một hệ thống năng lượng chủ yếu dựa vào nhiên liệu hóa thạch, phát thải cao, hiệu quả thấp sang một hệ thống năng lượng đa nguồn, sạch hơn, hiệu quả hơn, linh hoạt hơn, có khả năng chống chịu tốt hơn và phục vụ tốt hơn cho phát triển bền vững.

Nói một cách ngắn gọn: Chuyển dịch năng lượng không chỉ là thay than bằng điện gió, thay xăng dầu bằng xe điện, hay lắp thêm điện mặt trời. Đó là quá trình tái cấu trúc toàn bộ hệ thống năng lượng, từ nguồn cung, hạ tầng, công nghệ, thị trường, giá cả, tiêu dùng đến hành vi của doanh nghiệp và người dân.

Nội dung chuyển dịch năng lượng của Việt Nam không chỉ là điện

Khi nói đến chuyển dịch năng lượng, chúng ta thường nghĩ ngay đến điện: điện mặt trời, điện gió, điện khí, thủy điện, truyền tải điện, thị trường điện. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Điện là trung tâm của chuyển dịch năng lượng, nhưng không phải toàn bộ chuyển dịch năng lượng. Đối với Việt Nam, nội dung chuyển dịch năng lượng cần được nhìn nhận trên ít nhất sáu trụ cột.

Thứ nhất là chuyển dịch trong cơ cấu nguồn điện. Việt Nam cần giảm dần sự phụ thuộc vào nhiệt điện than, phát triển hợp lý năng lượng tái tạo, điện khí, thủy điện tích năng, pin lưu trữ, điện gió ngoài khơi, điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu. Nhưng quá trình này phải được thực hiện theo lộ trình thận trọng, khoa học, không cực đoan. Mục tiêu không phải là loại bỏ ngay một nguồn năng lượng nào đó, mà là bảo đảm đủ điện, ổn định hệ thống, chi phí hợp lý và giảm dần phát thải.

Thứ hai là chuyển dịch trong hạ tầng năng lượng. Nếu nguồn điện phát triển nhanh mà lưới điện không theo kịp thì năng lượng tái tạo cũng có thể bị cắt giảm, gây lãng phí xã hội. Vì vậy, lưới điện truyền tải, lưới phân phối, hệ thống điều độ, lưu trữ năng lượng và công nghệ số phải đi trước một bước. Chuyển dịch năng lượng không thể chỉ đầu tư vào nhà máy điện, mà phải đầu tư vào cả “bộ não” và “mạch máu” của hệ thống điện.

Thứ ba là chuyển dịch trong sử dụng xăng dầu và nhiên liệu giao thông. Đây là điểm rất quan trọng. Việt Nam không thể hiểu chuyển dịch năng lượng chỉ là câu chuyện của ngành điện, trong khi giao thông vận tải vẫn tiêu thụ lượng lớn xăng dầu truyền thống. Việc khuyến khích sử dụng xăng sinh học E10 là một ví dụ cụ thể. E10 là xăng có phối trộn ethanol nhiên liệu ở tỉ lệ khoảng 10%. Nếu được triển khai bài bản, E10 có thể góp phần giảm phụ thuộc một phần vào xăng khoáng, tạo đầu ra cho nhiên liệu sinh học trong nước, giảm phát thải tương đối trong giao thông và thúc đẩy thói quen tiêu dùng năng lượng sạch hơn.

Tuy nhiên, E10 không thể thành công nếu chỉ ban hành lộ trình hành chính. Điều quan trọng là phải bảo đảm chất lượng nhiên liệu, năng lực phối trộn, hệ thống phân phối, kiểm định phương tiện, truyền thông rõ ràng để người dân hiểu, doanh nghiệp yên tâm và thị trường vận hành thông suốt. Bài học từ xăng E5 trước đây cho thấy, một chính sách đúng vẫn có thể không đạt kỳ vọng nếu thiếu niềm tin thị trường, thiếu truyền thông minh bạch và thiếu lợi ích đủ rõ cho người tiêu dùng.

Thứ tư là chuyển dịch trong tiêu dùng năng lượng của doanh nghiệp và hộ gia đình. Tiết kiệm năng lượng phải được coi là một “nguồn năng lượng đầu tiên”. Trong nhiều trường hợp, tiết kiệm một kWh điện rẻ hơn nhiều so với xây thêm một kWh công suất mới. Doanh nghiệp cần được khuyến khích đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng, kiểm toán năng lượng, quản trị phụ tải, sử dụng điện mặt trời mái nhà, thay thế thiết bị lạc hậu. Người dân cần được khuyến khích sử dụng thiết bị hiệu suất cao, điện mặt trời mái nhà tự dùng, phương tiện giao thông tiết kiệm nhiên liệu và từng bước chuyển sang phương tiện xanh.

Thứ năm là chuyển dịch trong cơ chế thị trường và giá năng lượng. Một hệ thống năng lượng hiện đại không thể vận hành hiệu quả nếu giá điện, giá xăng dầu, giá khí, chi phí truyền tải, chi phí dự phòng và chi phí môi trường không được phản ánh tương đối đầy đủ, minh bạch. Giá năng lượng phải vừa bảo đảm an sinh xã hội, vừa tạo tín hiệu đúng cho đầu tư, tiết kiệm và đổi mới công nghệ. Nếu giá năng lượng bị nén quá lâu, thị trường sẽ thiếu động lực đầu tư; nếu điều chỉnh quá mạnh và thiếu lộ trình, doanh nghiệp và người dân sẽ chịu cú sốc chi phí. Vì vậy, cải cách giá năng lượng phải đi kèm bảo vệ nhóm yếu thế bằng chính sách mục tiêu.

Thứ sáu là chuyển dịch trong quản trị phát thải và thị trường carbon. Trong tương lai gần, doanh nghiệp không chỉ cần điện ổn định và giá hợp lý, mà còn cần chứng minh sản phẩm được sản xuất bằng năng lượng sạch hơn, phát thải thấp hơn. Do đó, hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định phát thải; chứng chỉ năng lượng tái tạo; thị trường carbon; tài chính xanh và tiêu chuẩn ESG sẽ trở thành một phần không thể tách rời của chuyển dịch năng lượng.

Như vậy, chuyển dịch năng lượng của Việt Nam phải là một quá trình tổng thể: Từ điện sang xăng dầu, từ nguồn cung sang tiêu dùng, từ hạ tầng sang thị trường, từ công nghệ sang thể chế, từ mục tiêu môi trường sang yêu cầu cạnh tranh quốc gia.

Yêu cầu tăng trưởng hai chữ số đặt ra sức ép lớn hơn đối với chuyển dịch năng lượng

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng tăng trưởng cao. Mục tiêu tăng trưởng hai chữ số không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế, mà là yêu cầu để rút ngắn khoảng cách phát triển, nâng cao thu nhập, mở rộng không gian công nghiệp hóa và đưa đất nước tiến gần hơn tới mục tiêu thu nhập cao.

Nhưng tăng trưởng hai chữ số đồng nghĩa với nhu cầu năng lượng tăng rất mạnh. Công nghiệp chế biến chế tạo, khu công nghiệp, đô thị mới, trung tâm dữ liệu, logistics, giao thông điện hóa, kinh tế số, sản xuất xanh đều cần điện, nhiên liệu và hạ tầng năng lượng ổn định. Nếu năng lượng không đi trước một bước, tăng trưởng sẽ gặp “điểm nghẽn” ngay từ đầu vào cơ bản nhất.

Vấn đề đặt ra là Việt Nam không thể đáp ứng nhu cầu năng lượng tăng nhanh bằng cách đơn giản là khai thác, nhập khẩu và đốt nhiều nhiên liệu hóa thạch hơn. Cách làm đó có thể giải quyết nhu cầu ngắn hạn, nhưng sẽ tạo ra rủi ro dài hạn: phụ thuộc nhập khẩu nhiên liệu, biến động giá quốc tế, áp lực lạm phát, ô nhiễm môi trường, phát thải carbon cao và suy giảm sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu.

Do đó, trong bối cảnh tăng trưởng hai chữ số, chuyển dịch năng lượng càng trở nên cấp bách hơn, chứ không phải chậm lại. Tăng trưởng cao không mâu thuẫn với chuyển dịch năng lượng. Ngược lại, muốn tăng trưởng cao và bền vững thì phải chuyển dịch năng lượng nhanh hơn, bài bản hơn và thực chất hơn.

Điểm then chốt là chuyển dịch phải bảo đảm ba mục tiêu cùng lúc: đủ năng lượng cho phát triển, giá năng lượng hợp lý cho doanh nghiệp và người dân, đồng thời giảm dần cường độ phát thải của nền kinh tế. Nếu chỉ chú trọng giảm phát thải mà thiếu điện, nền kinh tế sẽ bị kìm hãm. Nếu chỉ lo đủ điện bằng mọi giá mà bỏ qua phát thải và hiệu quả sử dụng, hàng hóa Việt Nam sẽ mất lợi thế trong chuỗi cung ứng xanh. Nếu chỉ giữ giá thấp trong ngắn hạn mà không tạo tín hiệu đầu tư, hệ thống năng lượng sẽ thiếu nguồn lực để mở rộng và hiện đại hóa.

Cơ hội của Việt Nam trong chuyển dịch năng lượng

Chuyển dịch năng lượng đặt ra áp lực lớn, nhưng đồng thời mở ra cơ hội phát triển rất quan trọng.

Trước hết, đây là cơ hội để Việt Nam nâng cấp mô hình tăng trưởng. Một nền kinh tế tăng trưởng cao không thể chỉ dựa vào lao động giá rẻ, tài nguyên và mở rộng vốn đầu tư. Chuyển dịch năng lượng buộc doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng, quản trị chi phí tốt hơn và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị xanh. Đó chính là con đường nâng cao năng suất.

Thứ hai, chuyển dịch năng lượng mở ra cơ hội thu hút đầu tư xanh. Dòng vốn toàn cầu đang dịch chuyển mạnh vào năng lượng tái tạo, lưới điện, lưu trữ năng lượng, nhiên liệu sạch, giao thông xanh, công nghệ tiết kiệm năng lượng. Việt Nam nếu có cơ chế rõ ràng, ổn định và minh bạch có thể thu hút nguồn vốn lớn cho hạ tầng năng lượng mới, nhất là trong bối cảnh các cam kết quốc tế như JETP đã tạo ra nền tảng hợp tác quan trọng.

Thứ ba, đây là cơ hội để phát triển các ngành công nghiệp mới. Chuyển dịch năng lượng không chỉ tạo thêm nhà máy điện, mà còn tạo thị trường cho thiết bị điện, pin lưu trữ, cơ khí phục vụ điện gió, dịch vụ kỹ thuật, tư vấn carbon, kiểm toán năng lượng, tài chính xanh, phần mềm quản trị năng lượng, vật liệu mới và đào tạo nhân lực kỹ thuật cao.

Thứ tư, chuyển dịch năng lượng giúp nâng cao sức cạnh tranh xuất khẩu. Khi các thị trường nhập khẩu lớn ngày càng coi trọng tiêu chuẩn carbon, doanh nghiệp có khả năng sử dụng điện sạch, nhiên liệu sạch, quản trị phát thải minh bạch sẽ có lợi thế hơn. Ngược lại, nếu chậm chuyển dịch, doanh nghiệp có thể đối mặt với chi phí carbon, rào cản kỹ thuật và nguy cơ mất đơn hàng.

Thứ năm, chuyển dịch năng lượng có thể gắn với lợi ích của người dân. Điện mặt trời mái nhà tự dùng giúp giảm chi phí điện; thiết bị tiết kiệm năng lượng giúp giảm hóa đơn; xăng sinh học, phương tiện tiết kiệm nhiên liệu và giao thông xanh giúp giảm ô nhiễm; đô thị sử dụng năng lượng hiệu quả giúp nâng cao chất lượng sống.

Thách thức lớn nhất là thể chế, hạ tầng và niềm tin thị trường

Mặc dù cơ hội rất lớn, nhưng chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam không dễ dàng. Có thể chỉ ra một số thách thức căn bản.

Thách thức thứ nhất là tư duy chuyển dịch còn chưa thật đầy đủ. Có lúc chúng ta đồng nhất chuyển dịch năng lượng với phát triển điện tái tạo. Có lúc lại lo ngại chuyển dịch năng lượng sẽ làm tăng chi phí, ảnh hưởng tăng trưởng. Cả hai cách nhìn đều chưa toàn diện. Chuyển dịch năng lượng đúng nghĩa phải vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giảm phát thải, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.

Thách thức thứ hai là hạ tầng chưa theo kịp. Lưới điện truyền tải, hệ thống lưu trữ, kho dự trữ xăng dầu, hạ tầng phối trộn nhiên liệu sinh học, trạm sạc xe điện, dữ liệu tiêu thụ năng lượng và hạ tầng thị trường carbon đều cần được đầu tư đồng bộ. Nếu thiếu hạ tầng, chính sách tốt cũng khó đi vào cuộc sống.

Thách thức thứ ba là cơ chế giá và thị trường còn chậm đổi mới. Muốn huy động vốn tư nhân và vốn quốc tế, nhà đầu tư cần nhìn thấy dòng tiền ổn định, hợp đồng đáng tin cậy, rủi ro được phân bổ hợp lý và cơ chế giá minh bạch. Điều này đúng với điện tái tạo, điện khí, lưới điện, lưu trữ năng lượng, cũng như nhiên liệu sinh học như E10.

Thách thức thứ tư là niềm tin của người tiêu dùng. Với E10, bài học quan trọng là người dân cần được giải thích rõ: E10 là gì, có phù hợp với phương tiện hay không, chất lượng được kiểm soát thế nào, giá cả ra sao, lợi ích môi trường và lợi ích kinh tế là gì. Nếu người tiêu dùng còn băn khoăn, thị trường sẽ khó chuyển đổi mạnh dù chính sách đã có.

Thách thức thứ năm là yêu cầu công bằng trong chuyển dịch. Những ngành, địa phương và nhóm lao động gắn với năng lượng truyền thống có thể chịu tác động. Vì vậy, chuyển dịch năng lượng phải đi kèm đào tạo lại lao động, chuyển đổi sinh kế, phát triển ngành nghề mới và bảo đảm an sinh xã hội.

Một số yêu cầu chính sách trong giai đoạn mới

Để chuyển dịch năng lượng thực sự trở thành động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, tôi cho rằng cần tập trung vào một số yêu cầu chính sách sau.

Một là, xác định rõ chuyển dịch năng lượng là chiến lược phát triển, không chỉ là chính sách môi trường. Mọi quy hoạch về điện, xăng dầu, khí, giao thông, công nghiệp, đô thị và nông nghiệp cần được đặt trong một chỉnh thể chung về an ninh năng lượng và giảm phát thải.

Hai là, bảo đảm điện đi trước một bước cho tăng trưởng cao. Quy hoạch nguồn điện phải gắn với quy hoạch lưới điện, lưu trữ năng lượng, điều độ hệ thống và nhu cầu phụ tải thực tế của các trung tâm công nghiệp, đô thị, logistics và dữ liệu.

Ba là, phát triển năng lượng tái tạo theo hướng ổn định, có kiểm soát và có thị trường. Không nên phát triển nóng, cũng không nên vì những vướng mắc trước đây mà chậm lại. Cần cơ chế đấu thầu minh bạch, hợp đồng mua bán điện đủ tin cậy, cơ chế mua bán điện trực tiếp, phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu và khuyến khích lưu trữ năng lượng.

Bốn là, đưa xăng dầu và nhiên liệu sinh học vào trung tâm của chuyển dịch năng lượng. Lộ trình E10 cần được triển khai bài bản, có truyền thông tốt, kiểm soát chất lượng nghiêm, bảo đảm năng lực phối trộn và phân phối. Đồng thời, cần gắn E10 với phát triển vùng nguyên liệu, công nghiệp nhiên liệu sinh học, an ninh xăng dầu và mục tiêu giảm phát thải trong giao thông.

Năm là, coi tiết kiệm năng lượng là giải pháp chiến lược. Cần thúc đẩy kiểm toán năng lượng bắt buộc đối với cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm, áp dụng tiêu chuẩn hiệu suất tối thiểu, khuyến khích đổi mới thiết bị, quản lý phụ tải giờ cao điểm và sử dụng công nghệ số trong quản trị năng lượng.

Sáu là, cải cách giá năng lượng theo hướng minh bạch, có lộ trình và bảo vệ nhóm yếu thế. Giá điện, giá xăng dầu, giá khí và các chi phí liên quan cần phản ánh đúng hơn tín hiệu thị trường, nhưng phải đi kèm chính sách hỗ trợ mục tiêu cho người nghèo, người thu nhập thấp và các nhóm dễ bị tổn thương.

Bảy là, phát triển thị trường carbon và hệ thống chứng chỉ năng lượng sạch. Đây là điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam chứng minh năng lực sản xuất xanh, đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu và tránh bị động trước các rào cản carbon quốc tế.

Tám là, nâng cao trách nhiệm điều phối của Nhà nước. Chuyển dịch năng lượng liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Vì vậy, cần một cơ chế điều phối đủ mạnh, dữ liệu thống nhất, trách nhiệm rõ ràng và kiểm tra thực thi nghiêm túc.

Kết luận

Chuyển dịch năng lượng là xu thế chung của thế giới và Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó. Nhưng Việt Nam cần có cách đi phù hợp với điều kiện của mình. Chúng ta không thể chuyển dịch bằng phong trào, cũng không thể chuyển dịch bằng mệnh lệnh hành chính đơn thuần. Chuyển dịch năng lượng phải dựa trên khoa học, thị trường, công nghệ, hạ tầng, thể chế và sự đồng thuận xã hội.

Trong giai đoạn mới, nội dung chuyển dịch năng lượng của Việt Nam phải được hiểu rộng hơn: không chỉ là điện, mà còn là xăng dầu, nhiên liệu sinh học như E10, giao thông xanh, tiết kiệm năng lượng, thị trường carbon, giá năng lượng, hạ tầng dự trữ, lưới điện thông minh và hành vi tiêu dùng của toàn xã hội.

Nếu làm đúng, chuyển dịch năng lượng sẽ không phải là gánh nặng chi phí. Ngược lại, đó là động lực để Việt Nam nâng cấp mô hình tăng trưởng, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp, thu hút đầu tư xanh, mở rộng ngành công nghiệp mới và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Muốn tăng trưởng hai chữ số, năng lượng phải đi trước một bước. Nhưng năng lượng đi trước không chỉ là có thêm điện, thêm xăng dầu, thêm công suất. Năng lượng đi trước phải là một hệ thống năng lượng hiện đại hơn, sạch hơn, hiệu quả hơn, minh bạch hơn và có khả năng chống chịu tốt hơn. Đó chính là bản chất của chuyển dịch năng lượng trong giai đoạn mới: chuyển dịch để phát triển, chuyển dịch để cạnh tranh, chuyển dịch để bảo đảm an ninh quốc gia và chuyển dịch để nâng cao chất lượng sống của người dân.

Tin liên quan:

Chuyển dịch năng lượng xanh và bền vững

Chuyển dịch năng lượng: Khi công nghệ trở thành chìa khóa của Net Zero

Chuyển dịch năng lượng của Việt Nam – Dưới góc nhìn chỉ số ETI và quy hoạch phát triển

Theo PGS.TS Ngô Trí Long - Chuyên gia Kinh tế, Hiệp hội tư vấn Tài chính Việt Nam - báo Lao Động
điện mặt trời, Điện gió, năng lượng, chuyển dịch năng lượng
Chia sẻ
Quay lại tin tức
Bình luận

Cancel Reply

(Bạn)

Gửi

Xem thêm

“Nguồn điện đầu tiên” có chi phí thấp nhất, sạch nhất của Việt Nam
Biến đổi khí hậu, lưu trữ năng lượng, tiết kiệm năng lượng
“Nguồn điện đầu tiên” có chi phí thấp nhất, sạch nhất của Việt Nam
23/06/2026
Chuẩn bị vận hành sàn giao dịch carbon trong nước
tín chỉ carbon, sàn giao dịch tín chỉ Carbon
Chuẩn bị vận hành sàn giao dịch carbon trong nước
22/06/2026
thủy điện Bình Điền, sản xuất kinh doanh, phòng chống thiên tai
Video: Thủy điện Bình Điền kiến tạo giá trị bền vững cho tương lai
19/06/2026
Điện gió, năng lượng, máy phát điện sạch, hydro, điện mặt trời
Động cơ phát điện bằng 100% hydro đầu tiên trên thế giới hòa lưới điện quốc gia
16/06/2026
năng lượng tái tạo, năng lượng mới, sạc BESS, pin lưu trữ năng lượng
Tiêu chuẩn quốc gia cho pin lưu trữ năng lượng – Phân tích bối cảnh và cách tiếp cận của Việt Nam
16/06/2026
Video: Thủy điện Bình Điền kiến tạo giá trị bền vững cho tương lai
thủy điện Bình Điền, sản xuất kinh doanh, phòng chống thiên tai
Video: Thủy điện Bình Điền kiến tạo giá trị bền vững cho tương lai
19/06/2026
Động cơ phát điện bằng 100% hydro đầu tiên trên thế giới hòa lưới điện quốc gia
Điện gió, năng lượng, máy phát điện sạch, hydro, điện mặt trời
Động cơ phát điện bằng 100% hydro đầu tiên trên thế giới hòa lưới điện quốc gia
16/06/2026
Tiêu chuẩn quốc gia cho pin lưu trữ năng lượng – Phân tích bối cảnh và cách tiếp cận của Việt Nam
năng lượng tái tạo, năng lượng mới, sạc BESS, pin lưu trữ năng lượng
Tiêu chuẩn quốc gia cho pin lưu trữ năng lượng – Phân tích bối cảnh và cách tiếp cận của Việt Nam
16/06/2026
Về Bitexco Power Sơ đồ website Liên hệ
logo
A303, Tầng 3, The Manor Tower, Mễ Trì, Phường Từ Liêm, TP Hà Nội
Tel: +84 243 224 2507 | +84 243 224 2508
Email: bitexcopower@bitexcopower.com.vn
               
©2023 Bitexco Power
  • Trụ sở
  • Chính sách bảo mật
  • Điều khoản sử dụng
  • TẬP ĐOÀN BITEXCO
  • I-REC BITEXCO POWER
  • vi Tiếng Việt
    en Englishvi Tiếng Việt